Yếu tố nguy cơ liên quan tới tử vong sởi ở trẻ em trong thời kỳ dịch tại Mông Cổ.

Dữ liệu giám sát được thu thập từ hai đợt dịch Sởi tại Mông Cổ (3-9/2015 và 10/2015-6/2016) được dùng để tiến hành nghiên cứu bệnh chứng để xác định các yếu tố nguy cơ liên quan tới tử vong sởi ở trẻ. Tử vong do sởi được so sánh với các trường hợp sởi không tử vong ở những trẻ em bị nhập viện. Nhập viện do viêm phổi hoặc cúm liên quan với tử vong (OR hiệu chỉnh = 4,5).

Khuynh hướng nhiễm HIV và hành vi nguy cơ liên quan tới HIV ở người tiêm ma túy.

Các nhà nghiên cứu đánh giá ba nghiên cứu tiến cứu để xem khuynh hướng thời gian của HIV và các hành vi nguy cơ của HIV ở người tiêm ma túy tại Bangkok, Thái Lan từ 1995-2012. Tỷ suất mới mắc HIV giảm ở nhóm dân số giữa các nghiên cứu đầu tiên và cuối cùng từ 5,7 xuống 0,7/1.000 người – năm.

Nhiều đợt bùng phát dịch Salmonella do tiếp xúc với nhím nuôi kiểng.

Trung tâm kiểm soát dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) đã báo cáo 17 trường hợp Salmonella Typhimurium trên 11 bang của Hoa Kỳ, có 2 trường hợp nhập viện nhưng không tử vong. 87% các trường có tiếp xúc với nhím kiểng được ghi nhận qua phỏng vấn và có thể xem đó là nguồn dịch. Nhà cung cấp nhím kiểng chưa được xác định.

Giảm kê đơn các loại kháng sinh tại US.

Các nhà nghiên cứu sử dụng dữ liệu từ IQVIA mô tả khuynh hướng kê toa kháng sinh cho bệnh nhân ngoại trú từ 2011-2016. Tỷ suất kê toa kháng sinh của toàn quốc giảm 5% trong giai đoạn 2011-2016; ở bệnh nhi giảm 13%. Tỷ số kháng sinh phổ rộng hẹp giảm 8% trong giai đoạn này (1,62-1,49), nhưng tỷ suất kê toa ở người lớn lại tăng nhẹ (khoảng 2%).

Tỷ lệ nhiễm Lao tại US thấp nhất từ trước tới nay.

Năm 2018, tổng cộng có 9.029 trường hợp nhiễm lao mới tại US giảm 0,7% so với 2017, theo báo cáo của trung tâm kiểm soát dịch bệnh tại Hoa Kỳ (CDC). Khoảng 2/3 số ca xảy ra ở người không sinh ra tại Hoa Kỳ. Tỷ suất mới mắc lao năm 2018 là 2,8/100.000 người, là số thấp nhất được ghi nhận kể từ khi CDC bắt đầu giám sát Lao năm 1953.

Nguồn: https://www.cdc.gov/mmwr/volumes/68/wr/mm6811a2.htm

Sử dụng kháng sinh ngắn hạn hiệu quả trong kiểm soát nhiễm khuẩn huyết do Pseudomonas.

Trong một nghiên cứu đoàn hệ quan sát có trọng số trên 249 bệnh nhân có biến chứng nhiễm khuẩn huyết do Pseudomonas aeruginosa (BSI), các nhà nghiên cứu so sánh tỷ suất nhiễm khuẩn lặp lại giữa các nhóm được điều trị kháng sinh ngắn ngày (8-10 ngày) và nhóm điều trị dài ngày (14-17 ngày).

CDC nới lỏng hạn chế đi lại vì Zika ở phụ nữ mang thai.

Trung tâm kiểm soát dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) đã hạ cấp các hướng dẫn hạn chế đi lại đối với phụ nữ mang thai do đại dịch Zika đã không còn ở nhiều nơi trên thế giới. Tỷ lệ miển dịch Zika cao tại Tây bán cầu và các biện pháp kiểm soát đã được cải thiện ở Mỹ được cho là đã thúc đẩy giảm lây truyển virus.

Giảm hiệu quả thuốc sốt rét ở Châu Phi liên quan tới kháng thuốc.

Trong một tổng quan hệ thống và phân tích gộp, các nhà nghiên cứu phân tích 57 nghiên cứu xác định mối liên quan giữa nhẹ cân lúc sinh và sốt rét do dùng sulfadoxine – pyrimethamine gián đoạn trong thai kỳ, cũng như các dấu chỉ phân tử kháng sulfadoxin-pyrimethamine. Nguy cơ tương đối nhẹ cân giảm 21%/liều sulfadoxine-pyrimethamine.

Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 2 cho kết quả hứa hẹn về loại thuốc mới dự phòng nhiễm khuẩn C. difficile.

Các nhà nghiên cứu thực hiện thử nghiệm lâm sàng mù đôi có nhóm chứng để đánh giá hiệu quả của ribaxamase, enzyme beta lactamase đường uống, trong dự phòng nhiễm Clostridium difficile ở bệnh nhân nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới và viêm phổi. Kết quả cho thấy ribaxamase, khi dùng cho bệnh nhân nhiễm khuẩn hô hấp dưới cùng với tiêm ceftriaxone tĩnh mạch, giảm tỷ suất mới mắc C. difficile xuống 2,4% so với nhóm giả dược.

Tổng số ca Ebola gần 1.000.

Bộ y tế Cộng hòa Congo báo cáo thêm 11 trường hợp nhiễm Ebola tuần rồi tăng tổng số ca bệnh trong vụ dịch lên 991. Tổ chức sức khỏe thế giới lưu ý sự gia tăng các ca bệnh gần đây làm tăng các thách thức về an ninh.

Nguồn: https://www.who.int/csr/don/21-march-2019-ebola-drc/en/

Pages

Subscribe to HICS RSS