Một thử nghiệm lâm sàng trên 6.983 bệnh nhân sử dụng vỏ lưới phóng thích kháng sinh làm giảm 40% khả năng nhiễm khuẩn từ phẫu thuật cấy ghép các thiết bị điện tử tim mạch so với các biện pháp phòng ngừa chuẩn độc lập. Kết quả chính trong thử nghiệm này được xem như nhiễm khuẩn dẫn đến loại bỏ hoặc sửa đổi hệ thống, liệu pháp kháng sinh do tái nhiễm hoặc tử vong chỉ xảy ra trên 35 bệnh nhân được dùng vỏ lưới so với 42 bệnh nhân trong nhóm chứng.
Thông tin
Từ 2006 đến 2012, tỷ suất mới mắc nhiễm khuẩn Clostridium difficile (HO-CDI) hàng năm tại hơn 500 bệnh viện điều trị cấp tính tại Mỹ là 7,3/10.000 bệnh nhân-ngày. Việc gia tăng sử dụng thuốc kháng sinh có liên quan đến tỷ suất nhiễm Clostridium difficile cao; cứ mỗi 50 ngày điều trị/1,000 bệnh nhân-ngày sử dụng kháng sinh tăng lên, tỷ suất nhiễm vi khuẩn Clostridium difficile tại các bệnh viện tăng 4,4%, theo một nghiên cứu cắt ngang. Trong một nghiên cứu độc lập khác, những nhà nghiên cứu đã đánh giá tỷ suất nhiễm vi khuẩn clostridum difficile trong số 6.374 bệnh nhân, tuổi từ 18 trở lên, đã nhập viện tại một trong tám bệnh viện trường đại học tại Brazil. Trong thời gian nghiên cứu chỉ có 2 ngày, tỷ lệ nhiễm đường ruột Clostridium difficile là 3,0 /1,000 bệnh nhân-ngày, và tình trạng tiếp xúc với fluoroquinolone có liên quan với nguy cơ nhiễm khuẩn với RR là 3,13 so với những bệnh nhân không sử dụng fluoroquinolones.
Nguồn: https://academic.oup.com/cid/advance-article/doi/10.1093/cid/ciz169/5367464?searchresult=1
Từ 7/2013 đến 8/2014, tỷ lệ nhập viện do trực khuẩn Gram âm sinh men β-lactamas phổ rộng – sản sinh vi khuẩn đường ruột Entrobacteriacease (ESBL-E) trên 569 trẻ sơ sinh nhập viện tại các đơn vị trực thuộc hoặc khoa nhi tổng quát của Bệnh viện Quận Kilifi là 10%. Sinh mổ, tuổi sơ sinh cao, diện tích nhà ở nhỏ là các yếu tố nguy cơ tăng tỷ lệ nhiễm vi khuẩn ESBL-E ở trẻ khi nhập viện. Mỗi ngày có thêm 55% số trẻ sơ sinh đã bị nhiễm loại vi khuẩn này và tỷ suất nhiễm là 21,4% trong 1 ngày. Phần lớn mẫu ESBL-E phân lập được đều kháng nhiều loại thuốc, và phổ biến nhan61t là kháng chloramphenicol, trimethoprim-sulfamethoxazole, quinolones, và gentamicin.
Nguồn: https://academic.oup.com/cid/advance-article/doi/10.1093/cid/ciy976/5369438?searchresult=1
Từ 11/2014 đến 12/2016, các nhà nghiên cứu đã đưa 5.177 trẻ em tuổi từ 1 tháng đến 16 tuổi là các bệnh nhân bị sốt tại một trong 28 khoa cấp cứu ở các bệnh viện tại Châu Âu vào một nghiên cứu quan sát để đánh giá sự thay đổi trong cách kê đơn kháng sinh. Mẫu nghiên cứu gồm 4.560 trẻ em không mắc thêm bệnh nào khác, 32% được kê đơn kháng sinh, và 61% các đơn thuốc này là cho các loại thuốc kháng sinh bậc hai. Phần lớn các loại thuốc kháng sinh được kê để điều trị các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp. Tỷ suất kê đơn kháng sinh thay đổi từ 19% ở Thụy Sĩ đến 64% ở Thổ Nhĩ Kỳ.
Nguồn: https://www.thelancet.com/journals/laninf/article/PIIS1473-3099(18)30672-8/fulltext#%20
Tổ chức Thầy Thuốc Không Biên Giới (MSF) đã tạm ngưng tất cả các hoạt động tại một trung tâm điều trị bệnh Ebola tại Katwa, nước Cộng Hòa Dân Chủ Congo sau khi xảy ra sự tấn công bạo lực phá hủy nhiều khoa lâm sàng và các thiết bị mà theo báo cáo việc này làm một người chết, tổ chức quốc tế này đã thông báo. Nhân viên và các bệnh nhân của MSF đã được di tản khỏi trung tâm.
Các nhà nghiên cứu đã kiểm tra dữ liệu từ Mạng Lưới Cải Thiện sức khỏe của nước Anh để hiểu rõ về cách kê đơn thuốc kháng sinh trong việc chăm sóc sức khoẻ ban đầu của 13 bệnh nhiễm trùng thông thường, bao gồm cả viêm xoang cấp tính, đau họng cấp tính, đau họng và viêm phế quản cấp tính, viêm phổi và các bệnh khác. Từ 2013 đến 2015, đã có 931.015 lượt khám bệnh tại các cô sở chăm sóc ban đầu của các bệnh nhiễm trùng được chọn dẫn đến việc kê đơn thuốc kháng sinh. Thời gian kê toa thuốc vượt quá quy định cho phép tổng cộng đến 1,3 triệu ngày. Trên 80 phần trăm các trường hợp sử kháng sinh để điều trị nhiễm trùng đường hô hấp trên vượt quá khuyến nghị hướng dẫn.
Nguồn: https://www.bmj.com/content/364/bmj.l440
Khi những con muỗi cái Anopheles gambiae tiếp xúc nồng độ thấp atovaquone chống sốt rét trên những nơi được tẩm chất atovaquone như mùng ngủ có thể ngừng chu kỳ sống và dự phòng lây truyền kỳ sinh trùng Plasmodium falciparum gây sốt rét. Atovaquone và các hợp chất khác gây ức chế cytochtome b, can thiệp vào chức năng ty thể của ty lạp thể ngăn chặn sự phát triển khi muỗi tiếp xúc thuốc chống sốt rét trước hoặc ngay sau nhiễm P. falciparum. Các nhà nghiên cứu cho rằng viền lưới chống muỗi bằng atovaquone hoặc thuốc sốt rét có hiệu quả tương tự giúp loại bỏ sốt rét đặc biệt trong thời kỳ kháng thuốc trừ sâu đang tăng.
